Sách này chỉ kính biếu, không bán!

Qúy bạn đọc có thể thỉnh sách tại TU VIỆN CHƠN NHƯ.

Ấn bản điện tử được đăng tại trang web:

http://www.thuvienthaythonglac.net

 

 

 

 

MỤC LỤC

MỤC LỤC.. 1

LỜI NÓI ĐẦU.. 1

QUY Y TAM BẢO.. 1

QUY Y TAM BẢO.. 1

PHẬT BẢO.. 1

TĂNG BẢO.. 1

PHÁP BẢO.. 1

THỌ NGŨ GIỚI 1

CẤM SÁT SANH.. 1

CẤM TRỘM CẮP.. 1

CẤM TÀ DÂM... 1

CẤM NÓI DỐI. 1

CẤM UỐNG RƯỢU.. 1

LỜI KHUYÊN.. 1

 

Lời nói đầu

images (2)

Muốn tín ngưỡng theo một tôn giáo nào th́ các bạn phải t́m hiểu nghiên cứu tôn giáo ấy cho tường tận, nếu tôn giáo đó là một chân lư của loài người th́ các bạn nên tin theo và sống đúng những lời dạy của tôn giáo ấy. C̣n ngược lại là những tôn giáo lấy nhất thần hoặc đa thần làm chỗ tín ngưỡng, đó là những tôn giáo ảo tưởng, thiếu thực tế, không cụ thể, các bạn cần nên xem xét lại đừng quá vội tin. Nó không những không mang đến lợi ích thiết thực cho đời sống của các bạn mà c̣n truyền đạt những tư tưởng mê tín dị đoan, trừu tượng, lạc hậu, biến các bạn trở thành những người cuồng tin, mê tín mù quáng, lạc hậu...

Cho nên, muốn vào đạo Phật các bạn phải t́m hiểu nghiên cứu cặn kẽ:

1-       Phật là ai?

2-       Pháp là ǵ?

3-       Tăng là những người nào?

Các bạn đừng vội vàng tin theo mà phải chọn mặt gửi vàng, đừng quá dễ duôi, để tâm hồn và tư tưởng trong sạch của các bạn không bị ô nhiễm bởi những tư tưởng ảo ảnh, mơ hồ của tôn giáo gieo vào làm hại cho một kiếp người của các bạn.

Cho nên, khi các bạn muốn thọ Tam Quy Ngũ Giới để trở thành người đệ tử của đức Phật th́ các bạn phải nghiên cứu về Phật giáo thật kỹ càng. Muốn nghiên cứu về Phật giáo mà các bạn chỉ có đọc kinh sách th́ các bạn chẳng hiểu ǵ về Phật giáo bao nhiêu.

Trước khi nghe thuyết giảng kinh sách để nghiên cứu tôn giáo ḿnh sắp theo, các bạn hăy chọn một vị Thầy không phải chỉ ở cấp bằng cao học mà c̣n ở giới hạnh tinh nghiêm, cuộc đời tu hành của vị ấy không bao giờ phạm vào một giới nhỏ nhặt nào? Một vị Thầy mà giới luật nghiêm chỉnh như vậy là một vị Thầy đă chứng đạt chân lư, vị Thầy ấy sẽ đầy đủ khả năng giúp các bạn t́m hiểu về Phật giáo không c̣n sợ sai lầm. Và tôn giáo bạn sẽ chọn là đúng với tâm ước nguyện của các bạn, nó sẽ mang lợi ích cho các bạn thiết thực trong cuộc đời của các bạn đang t́m về tôn giáo đó.

Kính ghi,

Trưởng lăo Thích Thông Lạc

 

 

 

 

QUY Y
TAM BẢO

 

 

 

 


 

 

 

 

 


 

QUY Y TAM BẢO

Trước khi muốn QUY Y TAM BẢO, th́ các bạn phải t́m hiểu QUY Y TAM BẢO nghĩa là ǵ?

Cụm từ QUY Y TAM BẢO, có hai phần:

1-   QUY Y.

2-   TAM BẢO.

Bây giờ các bạn t́m hiểu danh từ thứ nhất, “QUY Y”. Vậy, QUY Y nghĩa là ǵ?

Chữ “QUY” có nghĩa là trở về; chữ “Y” có nghĩa là nương tựa. Hai từ ghép chung lại là “QUY Y”, có nghĩa là trở về nương tựa. QUY Y người Trung Hoa dịch nghĩa từ tiếng Phạn Namah dịch âm Nam Mô.

Làm người ai cũng biết cha mẹ. Cha mẹ là chỗ nương tựa của con cái. Con cái được lớn khôn nên người đều nhờ nương tựa vào cha mẹ. Cha mẹ nuôi nấng con cái cho ăn đi học, tạo dựng cơ nghiệp, cưới vợ, gả chồng trợ giúp làm nên sự nghiệp. Đấy là cuộc sống miếng cơm manh áo thuốc thang trị bệnh đều phải nương tựa vào cha mẹ. Ngoài những sự nương tựa này th́ cha mẹ không thể làm chỗ nương tựa khác cho con cái của ḿnh được. Đó là khi con cái bệnh đau cha mẹ không thể đau thay thế cho con cái ḿnh được; khi tâm sân hận buồn rầu đau khổ cha mẹ cũng không thay thế sân, hận, buồn rầu cho con cái được; khi con cái chết cha mẹ cũng không chết thay cho con cái ḿnh được... Như vậy, có những điều không thể nương tựa vào cha mẹ được.

V́ thế, các bạn t́m một chỗ nương tựa để thoát ra mọi sự đau khổ mà cha mẹ hay bất cứ một người nào thân thương nhất, dù là vợ chồng cũng không thể giúp nhau được.

V́ nỗi khổ của riêng mọi người, không ai nương tựa vào ai để thoát khổ được, nên các bạn trở về nương tựa vào ba ngôi Tam Bảo. Nhờ nương tựa vào ba ngôi Tam Bảo mà các bạn thoát khổ tức là các bạn làm chủ được sanh (đời sống), già, bệnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi.

Danh từ thứ hai, “TAM BẢO”. Vậy, ba ngôi Tam Bảo như thế nào mà các bạn nương vào lại hết khổ?

Ba ngôi Tam Bảo gồm có:

1-   PHẬT BẢO

2-   PHÁP BẢO

3-   TĂNG BẢO


Ngôi thứ nhất:

PHẬT BẢO

Vậy, PHẬT BẢO là ǵ?

PHẬT BẢO là một con người cũng bằng xương bằng thịt, cũng do cha mẹ sinh ra, và sinh ra cũng từ nơi bất tịnh, giống như chúng ta vậy, rồi cũng được nuôi lớn lên bằng sữa, cháo, cơm và thực phẩm. Khi lớn lên có vợ, có con như mọi người. Ngài cũng khổ đau v́ bệnh tật, v́ giận hờn, phiền năo, v.v.. Nhất là sau khi đi dạo ra ngoài bốn cửa thành, Ngài trông thấy bốn cảnh đời đau khổ của kiếp người:

˗       Cảnh thứ nhất: Thấy một ông lăo già yếu run rẩy chống gậy đi, đứng một cách khó khăn.

˗       Cảnh thứ hai: Thấy một người bệnh đau khổ rên la, kêu khóc.

˗       Cảnh thứ ba: Thấy một người chết, mọi người thân đang kêu khóc thương tiếc.

˗       Cảnh thứ tư: Thấy một vị tu sĩ đi xin ăn tự tại, thung dung.

Nh́n bốn cảnh này trong đời người quá đau khổ, Ngài nghĩ rằng: Rồi đây ḿnh cũng vậy, cũng phải đi vào cảnh khổ này. Cảnh khổ này không một ai thoát khỏi qui luật nhân quả, nên Ngài quyết định bỏ cuộc sống thế gian, chấp nhận cuộc sống tu sĩ, để đi t́m cho được phương pháp tu tập giải thoát và làm chủ bốn sự đau khổ của kiếp người (sanh, già, bệnh, chết). Ngài đă thành tựu sự giải thoát này; Ngài đă chứng đạt được chân lư của loài người. V́ thế, bài pháp đầu tiên Ngài thuyết giảng Bốn Chân Lư (Tứ Diệu Đế) cho năm anh em Kiều Trần Như.

Đạo Phật ra đời với bốn chân lư này, đem lại cho loài người một chương tŕnh giáo dục đào tạo con người đầy đủ đạo đức nhân bản - nhân quả làm người, sống không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ cả hai. Từ bốn chân lư này Ngài đă làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi tái sanh. Chúng ta cũng là con người; cũng do từ cha mẹ sinh ra như Ngài, Ngài làm được, chúng ta làm được; Ngài tu tập giải thoát, chúng ta cũng tu tập giải thoát được! Ngài làm được bất cứ một điều ǵ th́ chúng ta cũng làm được tất cả. V́ Ngài là con người, chúng ta cũng là con người. Do ḷng tin nơi con người quyết liệt như vậy th́ không có việc ǵ mà chúng ta không thành công. Phải không quư Phật tử?

Do ḷng tin Phật là con người thật, chứ không phải là một đấng Thánh, Thần, Bồ Tát từ cơi nào đến đây. Nếu Ngài là một bậc Thánh (Bồ Tát) từ cơi nào đến đây, đến trái đất của chúng ta như trong kinh sách Đại thừa đă dạy: Khi Ngài mới sinh ra, liền đi bảy bước có bảy bông sen đỡ chân và đưa tay chỉ Trời, chỉ Đất mà nói rằng: Thiên Thượng Thiên Hạ, Duy Ngă Độc Tôn”. Có nghĩa là “Trên Trời dưới Trời, Ta là người duy nhất”. Như vậy, rơ ràng Ngài là người đă chứng đạo, chứ không phải Ngài là một con người phàm phu giống như chúng ta. Cho nên, Ngài là người đă tu chứng đạo và đến đây để độ chúng ta, th́ chắc chắn chúng ta không thể tu tập làm chủ được như Ngài. Bởi v́, Ngài là những bậc Thánh Thần.

Sự thật không phải vậy. Kinh sách Đại thừa thường huyền thoại qua câu chuyện Thần Thánh hoá đức Phật. Một con người sinh ra như một Thánh nhân mà sau này phải 6 năm khổ hạnh, phải tu tập theo những pháp môn của ngoại đạo. Như vậy, rơ ràng chúng ta biết chắc rằng: Người đời sau đă huyền thoại một cách quá trớn, không đúng sự thật. Dựng lên một đấng Giáo Chủ ảo huyền.

Suốt sáu năm trời tu tập Ngài cũng không hiểu pháp nào là chánh pháp và pháp nào là tà pháp. Cho nên, cuộc đời của Ngài cũng phải trải qua sự học và tu tập rất nhiều pháp môn của ngoại đạo.

Sáu năm khổ hạnh với các pháp môn của ngoại đạo, Ngài tu tập gần như sắp chết, như trong kinh sách nói rằng: “Khi Đức Phật khổ hạnh sống ăn rất ít, do đó Ngài chỉ c̣n bộ xương bọc da, sờ da bụng đụng xương sống, sờ xương sống đụng da bụng. Cho nên, chúng ta xét thấy lời nói này có khi quá trớn. Nếu mà chúng ta sờ da bụng đụng xương sống, sờ xương sống đụng da bụng th́ chắc chắn không thể sống nổi.

Chúng ta biết rằng: Đức Phật có khổ hạnh tối đa, nhưng không thái quá như các Tổ đă kết tập kinh có phần thêm bớt. Ngài là một người sáng suốt trí tuệ, có thể lực mạnh mẽ và một nghị lực phi thường khi tu khổ hạnh cũng như tu tập hơi thở, chúng ta nhận xét điều này không lầm.

Sáu năm tu tập khổ hạnh Ngài không t́m ra được sự giải thoát, nên bỏ tất cả các pháp môn của ngoại đạo và tự t́m ra một giáo pháp riêng cho ḿnh và Ngài đă t́m thấy được chân lư một con đường giải thoát thật sự. V́ thương tưởng chúng sinh, Ngài truyền lại cho chúng ta ngày nay. Cho nên, PHẬT BẢO là một con người thật, con người cũng như chúng ta, chứ không phải là con người ở cơi Trời Đâu Xuất đến đây. Do ḷng tin sự chân thật này, chúng ta tin chắc rằng chúng ta là những con người th́ phải thực hiện được sự giải thoát này không có khó khăn.

Do ḷng tin chân thật của chúng ta khi nhận xét đúng đức Phật là con người thật, v́ thế ḷng tin ấy không c̣n ai thay đổi được. Cho nên, một đấng Giáo Chủ là người đă chứng đạo ở cơi giới nào đến đây truyền đạo, th́ điều đó chắc chắn chúng ta sẽ không tin theo đấng Giáo Chủ đó.

Đọc lịch sử thế giới chúng ta biết chắc trên hành tinh sống này, chỉ có một con người thật, là người nước ẤN ĐỘ, bỏ ngai vàng, danh lợi, bỏ vợ, bỏ con, rồi tu thành Phật. Sau này mọi người cung kính tôn trọng Ngài mới thành lập ra tôn giáo PHẬT GIÁO, chứ Ngài không có ư đồ đó. Một tôn giáo Phật giáo, trên đầu mọi người tín đồ không có Thần Thánh, không có Đấng Sáng Tạo, không có Đấng Vạn Năng và cũng không có Đấng Cứu Thế. V́ vậy, mọi người tu hành theo Phật giáo đều phải tự lực cứu ḿnh, chứ không nhờ vào tha lực của ai cả.

Ngày nay, Phật giáo Đại thừa tràn đầy tha lực thần quyền, thiếu thực tế khiến cho chúng ta mất niềm tin, chỉ v́ ở chỗ cúng tế lạy lễ, mang đầy h́nh thức mê tín dị đoan. Cho nên, chúng ta phải trở về cội nguồn tự lực của Phật giáo chân chính Nguyên Thủy. Trở về cội nguồn tự lực của Phật giáo chân chính Nguyên Thủy, tức là trở về với đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Trở về với đức Phật Thích Ca Mâu Ni là “QUY Y PHẬT BẢO”.

Hôm nay, quư Phật tử đă hiểu đức Phật nào mà quư vị chọn quy y. Chỉ có đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni th́ không có một vị Phật nào xứng đáng cho quư vị quy y. Vậy, quư vị chắp tay lên trước ngực hướng về tượng Phật thầm nguyện xin quy y với Ngài. Sau khi thầm nguyện xong quư vị đảnh lễ Ngài một lạy.

Ngôi thứ hai:

PHÁP BẢO

Vậy, PHÁP BẢO là ǵ?

PHÁP BẢO là những lời dạy của đức Phật, những kinh nghiệm trong khi tu tập đạt được chân lư, Ngài đem dạy lại cho loài người để thực hành đạt được kết quả giải thoát như Ngài. Tại sao pháp bảo của Ngài là chỗ nương tựa để chúng ta không c̣n khổ đau nữa?

Có phải là pháp môn niệm Phật Di Đà không? Có phải pháp môn ngồi thiền chẳng niệm thiện, niệm ác không? Có phải pháp môn tham thoại đầu, khán công án không? Có phải pháp môn niệm chú, bắt ấn, tụng kinh bái sám lạy hồng danh chư Phật không?

Không! Đức Phật không dạy những pháp môn như vậy, mà dạy chúng ta pháp môn Tứ Chánh Cần tức là ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp. Pháp của Phật rất thực tế, Ngài dạy: “Khi tâm có tham tôi biết tâm có tham, khi tâm không tham tôi biết tâm không tham”. Tham là ác pháp, ác pháp thường mang đến sự khổ đau cho ḿnh, cho người, cho cả hai. Vậy, ngay đó biết nó là ác pháp th́ phải diệt không được để nó trong tâm. Khi nương tựa vào pháp để diệt ác pháp th́ tâm hết khổ đau. Vậy, nương vào cha mẹ không hết khổ đau mà chỉ có nương vào pháp mà hết khổ đau. Khi thân bệnh đau nhức khổ sở, bất cứ một loại bệnh nào, nơi đâu trên thân th́ chỉ cần nương vào pháp môn của Phật th́ bệnh sẽ chấm dứt và thân không c̣n đau khổ nữa (Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu). Muốn biết rơ như vậy chúng ta hăy nhờ vào những ví dụ.

Ví dụ: Khi chúng ta bị nhức đầu liền nhiếp tâm vào hơi thở và an trú trong hơi thở. Vậy an trú trong hơi thở như thế nào?

Trước tiên chúng ta nhiếp tâm trong hơi thở: “Hít vô tôi biết tôi hít vô, thở ra tôi biết tôi thở ra”. Sau khi chánh niệm tỉnh thức trong hơi thở liền tiếp tục tác ư: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Sau khi tâm an trú được trong hơi thở th́ bệnh nhức đầu đă tan mất. Như vậy, nương vào cha mẹ làm sao hết bệnh đau đầu được, chỉ có nương vào pháp môn ngăn ác diệt ác pháp mà lành bệnh. Như vậy, nương vào pháp của Phật làm chủ được bốn sự đau khổ của kiếp người: sanh, già, bệnh, chết; ngoài ra không c̣n pháp nào để chúng ta nương tựa thoát khổ như vậy được.

Pháp môn làm chủ thoát khổ lợi ích lớn như vậy, cho nên nó được gọi là đạo đức nhân bản - nhân quả, sống không làm khổ ḿnh khổ người; pháp môn đem lại lợi ích cho đời, cho xă hội như vậy nên được gọi là PHÁP BẢO.

Pháp môn lợi ích như vậy có xứng đáng cho chúng ta nương tựa không? Cho nên, Quy Y Phật Bảo chưa thể đầy đủ trọn vẹn sự giải thoát của kiếp người, nên phải QUY Y PHÁP BẢO.


Ngôi thứ ba:

TĂNG BẢO

Vậy, TĂNG BẢO là ǵ ?

TĂNG BẢO là những vị tu sĩ Phật giáo tu hành đă chứng đạt chân lư, sống như Phật, giới luật nghiêm chỉnh, không hề vi phạm những lỗi nhỏ nhặt nào, thường làm gương sáng hay làm ngọn đuốc Đức Hạnh cho mọi người soi.

Tăng Bảo là một vị Thánh Tăng là người nêu cao Phạm hạnh của Phật giáo; là người mô phạm gương mẫu cho mọi người tu tập theo Phật giáo.

Cho nên, chọn được một vị Thánh Tăng không phải dễ, một người chứng đạt được chân lư đời nay quá hiếm, khó t́m, khó gặp. Khi t́m gặp th́ phải nương tựa vào vị ấy. Nương tựa vào vị ấy tức là QUY Y TĂNG BẢO.

Chọn lựa một vị Thánh Tăng là phải chọn lựa như thế nào? Chọn lựa một vị Thánh Tăng là phải chọn một vị tu sĩ cạo bỏ râu tóc, đắp áo Cà Sa, xuất gia sống không gia đ́nh, không nhà cửa, tâm hồn trắng bạch như vỏ ốc, phóng khoáng như hư không, phải biết Thiểu Dục Tri Túc”, tức luôn luôn biết đủ không bao giờ thấy thiếu một vật ǵ.

Trong đời sống làm người mà t́m thấy một vị Thánh Tăng như vậy, mới xứng đáng là người làm gương, làm ngọn đuốc sáng soi đường cho mọi người đi.

Cho nên, chọn lấy Tăng Bảo để Quy Y khong phải dễ. Vô cùng khó, khó vô cùng, chứ không phải gặp vị Tăng nào quư vị cũng đều Quy Y cả, miễn là có nghe đến bốn chữ QUY Y TAM BẢO là đủ.

Muốn tu theo đạo Phật không phải đụng đâu nghe đó, mà phải chọn người thầy rất kỹ như lời đức Phật đă dạy: Muốn t́m hiểu Phật giáo th́ phải chọn một vị Thầy tâm hết tham pháp, sân pháp, si pháp”. Hay phải thân cận: “Được thấy các bậc Thánh, được thuần thục pháp các bậc Thánh, được tu tập pháp các bậc Thánh; được thấy các bậc chân nhân, được thuần thục pháp các bậc chân nhân, được tu tập pháp các bậc chân nhân”. Chọn được một vị Tăng như vậy mới xứng đáng là một vị Thầy của ḿnh. Nếu chọn không được một bậc Thầy như vậy th́ đừng nên QUY Y TĂNG BẢO. Chờ khi nào chọn được Tăng Bảo xứng đáng mới quy y luôn cả ba ngôi Tam Bảo, c̣n chọn chưa được th́ xin Phật tử dừng lại đừng vội vàng mà hiến cuộc đời ḿnh cho tà pháp của ngoại đạo th́ thật là uổng phí cho một kiếp người.

Như vậy, Tăng Bảo là ngôi thứ ba nhưng lại quan trọng nhất trong ba ngôi Tam Bảo. Nếu không có Tăng Bảo th́ không bao giờ chúng ta giác ngộ chân lư được, không giác ngộ chân lư th́ biết ǵ mà hộ tŕ chân lư. Chân lư không được hộ tŕ th́ làm sao chứng đạt được chân lư.

Cho nên, Tăng Bảo là một báu vật quư giá nhất trên đời này. Nếu đồng thời sinh ra cùng đức Phật hay cùng một vị chứng quả A La Hán th́ đó là phước báu vô lượng không thể nghĩ bàn.

PHẬT BẢO tuy quư nhưng đức Phật đă tịch lâu rồi, khi tu tập gặp những khó khăn muốn thưa hỏi th́ làm sao hỏi được. Người tu tập chỉ noi theo gương hạnh của Ngài qua lịch sử ghi lại mà thôi. Nếu chỉ quy y Phật Bảo th́ chưa đủ. Cho nên, chúng ta muốn tu tập trọn vẹn để đi đến giải thoát hoàn toàn th́ PHẬT BẢO một gương hạnh tốt trên đường đi đến giải thoát mà c̣n cần phải nhiều điều nữa.

PHÁP BẢO là chữ nghĩa kinh sách, là những bài pháp của đức Phật đă dạy. Ngày nay được các vị Tổ sư kết tập lại thành tạng kinh Nikaya. Chúng ta đều nương tựa theo những lời dạy này mà tu tập. Trong khi tu tập gặp những khó khăn hay rắc rối, hỏi kinh th́ kinh không thể trả lời được.

Vậy th́ nương tựa vào pháp mà pháp không trả lời th́ làm sao tu tập tới nơi, tới chốn được. Cho nên, pháp bảo vẫn quư mà không quư bằng Tăng Bảo, v́ có ưu mà c̣n có khuyết chưa hoàn toàn ưu hẳn.

TĂNG BẢO là một con người đang sống như mọi người, nhưng là một người đă tu chứng đạt chân lư, nên người ấy có nhiều kinh nghiệm trên đường tu tập để hướng dẫn những người khác. V́ thế, khi nương tựa (quy y) vào người này th́ được người ấy khai ngộ chân lư. Sau khi ngộ được chân lư xong, người ấy dạy chúng ta hộ tŕ chân lư. Chân lư được hộ tŕ th́ không bao lâu chúng ta chứng đạt chân lư. Khi chứng đạt chân lư xong là chúng ta sẽ làm chủ: sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.

Tóm lại, ba ngôi Tam Bảo chỉ có Tăng Bảo là lợi ích nhất, nhờ có Tăng Bảo mà mọi người mới thực hiện đúng Phật pháp, mới ngộ được chân lư, mới biết cách hộ tŕ chân lư và nhờ đó mới chứng đạt chân lư, nếu không có Tăng Bảo th́ mọi người thực hiện sai pháp và cuộc đời tu hành của ḿnh cũng chỉ là h́nh thức tôn giáo mà thôi. Vậy, chúng ta hăy nh́n xem những tu sĩ Phật giáo hiện giờ, đă có một vị thầy tu nào chứng đạt chân lư thực tế chưa? Hay chỉ cứ dựa vào kinh sách tưởng giải ra tu tập. Do đó, người đầu, người giữa và người cuối cùng, người tiếp người đều là một dạng phối cảnh không có ai chứng đạt chân lư được.

Hôm nay, các Phật tử đă được nghe giảng về Ba Ngôi Tam Bảo rơ ràng và cụ thể. Vậy, quư Phật tử hăy chọn lấy Ba Ngôi Tam Bảo cho tương ưng với tâm nguyện của ḿnh.

Thầy xin nhắc lại: “Phật Bảo là con người thật không phải là con người tưởng mơ hồ, trừu tượng, tưởng tượng. Đó là một con người thật, con người tu hành giải thoát, làm chủ bốn sự đau khổ của kiếp người: sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt tái sinh luân hồi. Ngài đă đạt được chân lư tối hậu một mục đích bất động tâm, một đường lối thoát ra bốn sự đau khổ kiếp người.

Con người trong thế gian này khi đă hiểu đời là khổ, khổ như thật th́ chắc ai cũng muốn thoát ra. Không bao giờ có ai muốn sống trong cảnh khổ đau này, nhưng chỉ v́ chưa biết đường lối thoát ra, nên đành ḷng phải ôm chịu, chứ mọi người ai cũng muốn an vui hạnh phúc, có mấy ai muốn khổ bao giờ.

Đời sống hằng ngày là cuộc sống luôn luôn bị chi phối theo từng ác pháp, từng hoàn cảnh, từng sự việc, từng đối tượng, v.v.. Cho nên, quư Phật tử thường gặp những chướng ngại pháp, sinh ra phiền năo, đau khổ, tức giận, thương ghét, ganh tỵ, oán hận, sợ hăi, v.v.. Có nhiều khi họ không chịu nổi phải tự tử hoặc sa ngă vào đường trụy lạc rượu chè, cờ bạc, v.v..

Bệnh tật, làm người ai lại không bệnh, tuổi ngày càng cao, ai có thân cũng phải già yếu, nay bệnh này, mai bệnh khác, đi đứng không vững vàng, thân vô thường, diễn biến thay đổi liên tục ở trong thân của chúng ta, làm sao chúng ta không biết sự thay đổi này, biết rơ sự thay đổi này, chúng ta làm sao ngồi yên được, trừ ra khi chúng ta như điếc, như đui, như ngây dại.

Khi chưa biết pháp, chúng ta đành cam phận ôm bốn sự đau khổ này trong ḷng, c̣n khi đă biết pháp để thoát ra mọi sự khổ đau này th́ có ai dại ǵ ngồi đó chịu đựng bốn sự đau khổ đang dày ṿ chúng ta. Có phải vậy không quư Phật tử?

Hôm nay, Thầy khéo nhắc nhở để quư Phật tử hiểu được chánh Phật, Pháp, Tăng. Chánh Phật, Pháp, Tăng là Ba Ngôi Tam Bảo. Như vậy, sau khi nghe Thầy giảng về Ba Ngôi Tam Bảo rơ ràng cụ thể ích lợi thiết thực như vậy. Quư Phật tử có nghi ngờ ǵ không? Có c̣n thưa hỏi nghĩa lư ǵ về Ba Ngôi Tam Bảo này nữa không? Vậy nghĩa lư của Ba Ngôi Tam Bảo này có xứng đáng để cho quư Phật tử nương tựa không?

Theo Thầy thiết nghĩ: Ba Ngôi Tam Bảo này lợi ích rất lớn đem lại sự b́nh an, yên vui cho mọi người. Vậy, mọi người hăy đặt ḷng tin ở đó và chính nơi đó là nơi cứu cánh đến với mọi người.

Tóm lại, PHẬT BẢO là gương hạnh cho mọi người soi, là ngọn đuốc sáng soi đường cho mọi người đi. Mặc dù đức Phật không c̣n tại thế nữa, nhưng nhớ đến đức Phật là nhớ đến người đầu tiên đă đi t́m được con đường giải thoát này, để lại cho loài người ngày hôm nay.

Trên thế gian này không một tôn giáo nào có PHÁP BẢO như Pháp Bảo của Phật. V́ nó là pháp môn tu tập dùng tự lực chiến đấu với giặc sinh tử, luân hồi nên đức Phật dạy: TỰ LỰC THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI”. Khi ngọn đuốc đạo đức giải thoát làm sáng tỏ sự sống không làm khổ ḿnh, khổ người, khổ cả hai trong từng giây, từng phút; trong từng ngày, từng tháng, từng năm biến cuộc sống đầy tội ác, đầy đau khổ để trở thành cơi Thiên Đàng, Cực Lạc tại thế gian này, chứ không c̣n chỗ nào khác nữa.

PHÁP BẢO chỉ dạy rất rơ ràng, nếu có một người nào thường ngăn ác, diệt ác pháp, sanh thiện tăng trưởng thiện pháp th́ Thầy tin rằng người đó đă hiểu biết Phật Pháp rồi và không bao giờ tu hành sai pháp. Do đó, không có một ác pháp nào xâm chiếm thân tâm họ được. Họ không bao giờ để nghiệp lực kéo dài một ngày, hai ngày, ba ngày, chỉ trong một tích tắc, một giây, một phút là họ lo diệt sạch, họ không để trong tâm của họ một phút phiền năo, họ luôn thấy những điều đó là vô thường, là sự đau khổ. Trái lại chúng ta không biết th́ nó dày ṿ, nó dằn vặt trong tâm chúng ta kéo dài măi một thời gian, rồi mới lắng dịu và mới hết, đó là chúng ta không biết pháp, c̣n chúng ta biết pháp của Phật, th́ không bao giờ ai lại dại ǵ để cho tâm hồn chúng ta đau khổ, kéo dài từ ngày này sang ngày khác.

Ba ngôi TAM BẢO quư báu và lợi ích như vậy, giúp cho đời người có một cuộc sống thanh nhàn, an lạc, yên vui một cách thiết thực, cụ thể không có chút mơ hồ, trừu tượng, ảo tưởng nào.

PHÁP BẢO không phải là những pháp tu tập để có thần thông biết chuyện quá khứ vị lai, biến hoá tàng h́nh bằng cách này hay bằng cách khác, có khi phóng quang, có khi đi qua đá qua tường qua núi, v.v.. Những thần thông này chẳng có lợi ích thiết thực, v́ nó chỉ là một tṛ ảo thuật măi vơ sơn đông theo góc chợ, hè phố bán thuốc dạo, nó không có lợi ích bằng pháp ngăn ác diệt ác pháp.

Các con cứ suy nghĩ: Một vị tăng tu hành có thần thông, phép tắc, biết chuyện quá khứ, nói chuyện gia đ́nh ḿnh thật hay hoặc nói chuyện tương lai của ḿnh rất đúng không sai, nhưng thần thông này có lợi ích cho bản thân ḿnh không? Cho nên, quư Phật tử phải cảm nhận rằng: Ba Ngôi Tam Bảo rất quư báu.

Thầy sẽ giảng cho quư Phật tử về pháp làm chủ sinh, già, bệnh, chết để quư Phật tử hiểu rơ sự quí báu của PHÁP BẢO.

Ví dụ 1: Quư Phật tử đang tức giận một điều ǵ đó, muốn cho cơn tức giận đó không c̣n trong tâm nữa th́ quư Phật tử lấy Định Niệm Hơi Thở sử dụng đề tài: “Quán ly sân tôi biết tôi hít vô, quán ly sân tôi biết tôi thở ra”. Tác ư và nhiếp tâm trong hơi thở như vậy tâm sân liền tan biến.

Ví dụ 2: Quư Phật tử đang bệnh đau bụng, muốn cho cơn đau bụng đó không c̣n trong thân nữa th́ quư Phật tử lấy Định Niệm Hơi Thở sử dụng đề tài: “An tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”. Tác ư và nhiếp tâm trong hơi thở như vậy th́ thân đau bụng sẽ dần dần hết đau.

Ví dụ 3: Quư Phật tử cơ thể già yếu, suy ṃn muốn bỏ thân tứ đại này th́ nhập vào Thiền Thứ Tư tịnh chỉ hơi thở, liền xả bỏ báo thân vào trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự, th́ ngay đó quư Phật tử chết trong tự tại và đầy đủ sự an lạc không có khổ đau như người thế tục.

Xét thấy Ba Ngôi Tam Bảo có lợi ích lớn cho đời người như vậy, xin quư Phật tử hăy chấp tay lên trước ngực, mặt hướng về tượng Phật và phát nguyện: “Từ đây về sau con xin nguyện một ḷng quyết tâm nương theo Ba Ngôi Tam Bảo. Đời đời, kiếp kiếp không bao giờ rời bỏ. Xin đức Phật chứng minh cho chúng con”.

Sau khi phát nguyện xong xin quư Phật tử đảnh lễ Phật ba lạy để nhận thọ tŕ BA NGÔI TAM BẢO. (Lễ Phật xong rồi quư Phật tử hăy ngồi xuống, nghe Thầy giảng tiếp Ngũ giới).

³³³

 

 

 

THỌ NGŨ GIỚI

 

 

 

 


 

 

 

 


 

THỌ NGŨ GIỚI

Trước khi muốn THỌ NGŨ GIỚI, th́ quư Phật tử phải t́m hiểu THỌ NGŨ GIỚI nghĩa là ǵ?

Cụm từ THỌ NGŨ GIỚI có hai phần:

1-   THỌ

2-   NGŨ GIỚI

Bây giờ, các bạn t́m hiểu nghĩa danh từ THỌ. Vậy THỌ nghĩa là ǵ?

“THỌ” có nghĩa là chấp nhận, đồng ư, chịu phép.

“NGŨ GIỚI” có nghĩa là năm giới cấm. Hai từ ghép chung lại là “THỌ NGŨ GIỚI”. THỌ NGŨ GIỚI có nghĩa là chấp nhận sống đúng năm giới cấm không hề vi phạm một giới nào.

Trong đạo Phật năm giới cấm này là năm tiêu chuẩn làm người; người nào sống không đúng năm giới này là chưa xứng đáng làm người.

Bây giờ Thầy sẽ truyền năm giới cấm này cho quư Phật tử, quư vị hăy lắng nghe và suy nghĩ cho kỹ để thông suốt những giới cấm này.

Ở đây Thầy không truyền năm giới cấm suông. V́ đạo Phật là đạo tự giác, tự nguyện nên ai đến với đạo Phật đều phải đến với sự giác ngộ thông suốt bốn chân lư của nó. Do thông suốt bốn chân lư của nó, nên đến với niềm tin sâu thẳm tận đáy ḷng của ḿnh. Do đó, ḿnh phải tự nguyện tự giác chấp nhận những giới đức, giới hạnh làm cuộc sống. Cho nên, đạo Phật không khuyến dụ ai hết.

Đạo Phật là đạo giải thoát nên không có năm giới cấm, v́ có giới cấm là có sự bắt buộc kẻ khác. Có sự bắt buộc kẻ khác th́ làm sao gọi là đạo giải thoát? Năm giới cấm này là do các Tổ chế ra để cấm các tu sĩ Phật giáo phát triển phá giới, phạm giới, bẻ vụn giới, v.v..

Ở đây, Thầy truyền năm giới cấm, tức là truyền dạy quư Phật tử năm đức hạnh làm người. Người nào giữ tṛn năm đức hạnh này mới xứng đáng làm người. Vậy, năm đức hạnh này là ǵ?

Năm Giới đức hạnh này gồm có:

1/       Giới Cấm Sát Sanh = Giới Đức Hiếu Sinh.

2/       Giới Cấm Tham Lam Trộm Cướp = Giới Đức Buông Xả.

3/       Giới Cấm Tà Dâm = Giới Đức Chung Thủy.

4/       Giới Cấm Vọng Ngữ = Giới Đức Thành Thật.

5/       Giới Cấm Uống Rượu = Giới Đức Minh Mẫn.

Giới thứ nhất:

CẤM SÁT SANH

Giới cấm sát sanh là “GIỚI ĐỨC HIẾU SINH”. Người Phật tử cần phải học hiểu và sống cho đúng những đức hạnh này.

“GIỚI ĐỨC HIẾU SINH” này là ḷng thương yêu sự sống của muôn loài trên hành tinh này.

“GIỚI ĐỨC HIẾU SINH” chỉ có con người mới thực hiện được. V́ thế, đạo Phật ra đời mới đem chỉ dạy cho nhân loại, để con người xây dựng cho ḿnh có một tâm hồn hiếu sinh. Nhờ tâm hồn hiếu sinh, con người mới sống không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ chúng sanh, để biến cảnh sống trên hành tinh này thành cảnh sống an lạc cho mọi sự sống của muôn loài.

Hành tinh của chúng ta đang sống là một hành tinh có nhiều duyên hợp để sống và nảy sinh ra sự sống khác nhau. Có trùng trùng duyên hợp th́ phải có trùng trùng duyên sanh. Sanh diệt là một thể tự nhiên của hành tinh sống. Hành tinh sống là một hành tinh có nhiều duyên hợp lại để tạo thành một sự sống mới. Tạo thành sự sống mới có nghĩa là do các duyên hợp lại tạo ra một loài vật mới như: thực vật hay động vật mới.

Cho nên, vạn vật sinh ra không phải là do ĐẤNG TẠO HÓA mà do CÁC DUYÊN HỢP.

Chúng ta và vạn sinh vật do từ các duyên hợp lại sinh ra, cho nên chúng ta phải thương yêu nhau, thương yêu tất cả chúng sinh, v́ có thương yêu chúng sinh th́ chúng ta mới bảo vệ sự sống của muôn loài và của chính chúng ta. Nếu vô t́nh chúng ta hủy hoại sự sống của chúng sinh (sự sống của loài vật), là chúng ta tự huỷ hoại sự sống của chính ḿnh.

Tại sao lại gọi hành tinh của chúng ta là hành tinh sống?

Trong vũ trụ có nhiều thái dương hệ, trong mỗi thái dương hệ có nhiều hành tinh, trong các hành tinh phần nhiều là hành tinh chết v́ nơi đó không có sự sống. Trong không gian vũ trụ có rất ít hành tinh sống so với hành tinh chết.

Hành tinh sống có nghĩa là nơi đó có môi trường sống, phù hợp cho vạn vật sinh sôi, nảy nở, sống và lớn lên: Bắt đầu từ loài rong rêu, thảo mộc rồi đến các loài vi khuẩn, côn trùng và cầm thú sinh ra. Cuối cùng là loài người.

Loài người là một loài động vật cao cấp thông minh nhất trong các loài vật.

Nhờ có bộ óc thông minh nên loài người được xem là chúa tể của muôn loài.

Loài động vật trên hành tinh sống này thường giết hại lẫn nhau, ăn thịt nhau mà chẳng chút thương nhau. Loài người cũng chỉ là một loài động vật nên vẫn nằm trong bản chất hung ác của loài động vật. V́ thế, nên vẫn giết hại và ăn thịt lẫn nhau. Hiện giờ loài người tự cho ḿnh là văn minh, nhưng bản chất hung ác vẫn c̣n mang nặng trong tâm hồn.

Như đă nói ở trên: loài người vượt hơn muôn loài là nhờ có bộ óc thông minh, là nhờ có t́nh cảm sâu sắc, nên từ đó xuất hiện những con người thoát ra khỏi bản chất hung ác của loài động vật, tuyên dương ḷng thương yêu sự sống của muôn loài. Đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài đă xây dựng cho loài người một nền đạo đức nhân bản - nhân quả và kêu gọi mọi người, mọi loài vật hăy thực hiện ḷng hiếu sinh (tâm từ bi), ḷng yêu thương nhau một cách chân thật.

Ḷng thương yêu sự sống của muôn loài xuất hiện theo từng cấp độ:

1-       Cấp độ thứ nhất: Con người biết thương con người.

2-       Cấp độ thứ hai: Con người biết thương các loài động vật khác.

3-       Cấp độ thứ ba: Con người biết thương cây cỏ và thảo mộc.

Gồm ba cấp độ này lại mới được gọi là “L̉NG HIẾU SINH”. Ḷng hiếu sinh xuất phát từ tâm từ, bi, hỷ, xả. Trong đạo Phật tâm từ, bi, hỷ, xả c̣n có tên là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM. Tứ Vô Lượng Tâm là một pháp môn tu tập để thực hiện “ĐẠO ĐỨC HIẾU SINH.

Một người sống có ḷng hiếu sinh là người biết thương sự sống của muôn loài. Người nào sống được như vậy mới thật sự là bậc Thánh nhân. V́ chỉ có bậc Thánh nhân mới sống được như vậy, sống mà không nỡ giết hại và ăn thịt lẫn nhau, đó là một hành động không c̣n mang bản chất hung ác của loài động vật; đó là một hành động mà loài cầm thú không thể làm được, chỉ có con người mới thực hiện được mà thôi.

Bởi vậy, Thánh nhân không phải từ trên trời rơi xuống hay dưới đất chui lên, mà từ con người, con người biết thương yêu sự sống của muôn loài.

Chỉ có con người biết tu sửa thân tâm, biết ngăn và diệt ác pháp, biết làm điều lành, biết không làm khổ ḿnh, khổ người, khổ muôn loài. Người biết làm như vậy, đó là Thánh nhân.

Do biết khổ nên cố gắng khắc phục ḿnh không làm điều ác, luôn sống làm điều lành, đó là tu tập để làm Người thật là Người, để làm Thánh thật là Thánh.

Quư Phật tử hăy nh́n xem mọi người đang sống quanh ta, t́m một người biết thương yêu sự sống của muôn loài th́ thật là hiếm thấy. Phải không quư vị?

GIỚI ĐỨC HIẾU SINH này là để xác định đức hạnh từ, bi, hỷ, xả của Phật tử, dù ấu thơ hay già nua xuất gia đều phải sống đúng như vậy mới được gọi Thánh cư sĩ đệ tử của Phật.

Vậy mà, có một số người, mặc áo như Phật, tự xưng ḿnh là tu sĩ đệ tử của Phật, tu theo pháp môn chánh gốc Nguyên Thủy của Phật, thế mà hằng ngày ăn thịt chúng sinh chẳng khởi ḷng yêu thương trước sự đau khổ và chết chóc của loài vật. Tội ác bằng núi như vậy mà lại t́m cách che đậy và dối gạt mọi người, nhất là lấy câu kinh Niết Bàn, họ bảo rằng: “Trước giờ thị tịch đức Phật c̣n ăn thịt heo rừng”. Thật là lời bịa đặt khéo léo và gian xảo vô cùng. Quư Phật tử nhận xét không có lối che đậy tuyệt hảo nào bằng cách là bảo: “Đức Phật ăn thịt chúng sanh. Bảo đức Phật ăn thịt chúng sanh th́ không c̣n sợ ai lên án và kết tội ḿnh nữa.

Trong khi đó đức Phật thường dạy chúng ta: “Thừa tự pháp, không nên thừa tự thực phẩm”. Giới luật thứ nhất dạy “CẤM SÁT SANH”. Thế mà họ dám bịa đặt ra câu chuyện đức Phật ăn thịt heo rừng trước khi chết.

Lúc bấy giờ có một vị tỳ kheo ở xa đến tŕnh Phật một sự kiện xảy ra: “Kính bạch đức Thế Tôn, trên đường đến đây chúng con có hai người mong đến để được gặp Phật. Giữa đường con nhờ uống nước có trùng nên c̣n sống sót về đây gặp Phật, c̣n bạn con v́ giữ giới luật không uống nước có trùng nên đă chết giữa đường. Vậy xin đức Phật phán xét như thế nào?.

Đức Phật bảo: “Kẻ ngu si kia! Ông có biết rằng: Vị tỳ kheo do không uống nước có trùng đă gặp Phật trước khi ông đến đây không? C̣n ông gặp Phật mà lại không bao giờ gặp Phật. Ông có hiểu chưa?”. Lời dạy này xác định tu sĩ và cư sĩ Phật giáo phạm giới, phá giới sẽ không bao giờ gặp Phật.

Uống nước có trùng mà c̣n không gặp Phật, th́ thử hỏi quư sư, thầy và cư sĩ: “Ăn thịt chúng sanh th́ làm sao tu hành giải thoát được?”. Các sư, thầy, cư sĩ gọi là Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh cư sĩ mà ăn thịt chúng sanh th́ Đức Hiếu Sinh ở đâu? Các Sư Thầy và quư cư sĩ có biết không? Đạo Phật có Tứ Vô Lượng Tâm, vậy Tứ Vô Lượng Tâm của các Sư Thầy ở đâu? Thánh đức hiếu sinh không tṛn th́ làm sao làm Thánh Tăng, Thánh Ni, Thánh cư sĩ được.

Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh cư sĩ c̣n ăn thịt chúng sanh th́ Thánh đó là Thánh ǵ? Câu hỏi này để tự quư vị suy ngẫm trả lời.

Người cư sĩ chân chánh trong đạo Phật c̣n không ăn thịt chúng sanh th́ thử hỏi quư vị là tu sĩ thông suốt kinh điển của Phật để làm ǵ? Quư vị có bằng những người cư sĩ này không?

GIỚI ĐỨC HIẾU SINH này để xác chứng trong bốn giới đệ tử của Phật:

1/       Ưu Bà Tắc

2/       Ưu Bà Di

3/       Tăng

4/       Ni

Ai là Thánh đệ tử của Phật và ai là Ma Ba Tuần đội lốt đệ tử của Phật? Qua GIỚI ĐỨC HIẾU SINH này sẽ giúp chúng ta nhận rơ được chân Phật tử hay là giả Phật tử. Khi nhận rơ chân Phật tử là đệ tử của Phật th́ phải hết ḷng cung kính, cúng dường và tôn trọng lẫn nhau để cho Phật pháp được trường tồn.

Đệ tử của Phật sao lại c̣n ăn thịt chúng sanh? Như vậy đạo Phật có c̣n xứng đáng là đạo từ bi nữa không? Có c̣n xứng đáng là nền đạo đức nhân bản - nhân quả sống không làm khổ ḿnh, khổ người, khổ chúng sanh nữa không? Có c̣n xứng đáng là đạo trí tuệ nữa không? Nếu là đạo trí tuệ sao lại ăn thịt chúng sanh mà không có tư duy suy nghĩ đâu là thiện, đâu là ác? Nếu là đạo của trí tuệ sao lại c̣n đắm mê dục lạc về ăn uống như vậy?

Để che đậy tâm hung ác phàm phu tục tử chạy theo dục vọng thế gian trong ăn uống, có một số tu sĩ bảo rằng: “Ăn thịt chúng sanh không thấy, không nghe, không nghi và Phật c̣n ăn thịt heo rừng trước khi chết”. Lời nói này thật là tội lỗi, không biết tội ấy phải chịu đến ngàn trùng kiếp nào cho hết được. Bằng chứng là tu sĩ thời nay không có ai tu chứng quả A La Hán là do chỗ không giữ ǵn Thánh hạnh hiếu sinh. Mặc dù có những tu sĩ không ăn thịt chúng sanh nhưng ḷng hiếu sinh không có v́ họ không tu tập và rèn luyện Tứ Vô Lượng Tâm. Vu khống cho Phật ăn thịt chúng sanh, để che tội ác của ḿnh, thật là điêu ngoa, xảo quyệt của những người đội lốt Phật giáo. Đó là hành động phá đức hạnh Thánh trong đạo Phật, tội ấy là tội Ba La Di, tội đọa địa ngục, tội bị chém đứt đầu.

Ḷng hiếu sinh là một Thánh Đức của người tu sĩ Phật giáo. Nhưng dù là tu sĩ hay cư sĩ cũng đều phải thực hiện cho bằng được, nếu không th́ phải trả nợ máu xương rất nặng trong nhiều kiếp.

Người tu sĩ nào đi ngược lại Giới Đức Hiếu Sinh này là tu sĩ của tà đạo, chỉ biết nuôi thân ḿnh bằng xương máu của chúng sanh th́ sao gọi là Thánh đệ tử của Phật.

Trong Bát Chánh Đạo, xin hỏi quư bạn Chánh Mạng là ǵ?

Có phải chăng nuôi mạng sống của ḿnh bằng máu, xương của chúng sanh là Chánh Mạng ư?

Nuôi Chánh Mạng sao lại nỡ nhẫn tâm ăn thịt chúng sanh? Nuôi mạng sống của ḿnh như vậy là Chánh Mạng ư?

Nuôi mạng sống của ḿnh không có sự đau khổ của chúng sanh mới gọi là Chánh Mạng. Người ta nói và thuyết giảng về Chánh Mạng, nhưng người ta không sống đúng Chánh Mạng.

Sống không đúng Chánh Mạng mà làm đệ tử của Phật để làm ǵ? Thà đừng theo đạo Phật, mà đă theo đạo Phật th́ phải sống cho đúng lời dạy của đức Phật. Sống không đúng lời dạy của đức Phật là phỉ báng Phật giáo.

Cho nên, sống trong tà mạng sao lại gọi là đệ tử của Phật được. Đi ngược lại chân lư của đạo Phật (Đạo Đế), mà muốn làm đệ tử Phật th́ có ích lợi ǵ. Bát Chánh Đạo là chương tŕnh giáo dục đào tạo, chỉ dạy cho ta có một cuộc sống chánh hạnh, đó là đức hạnh làm Người, làm Thánh.

Giới Đức Hiếu Sinh là những hành động sống đối xử với muôn loài bằng ḷng yêu thương cao quí tuyệt vời mà mọi người ai ai cũng đều phải học tập và trau dồi không riêng những đệ tử của đức Phật.

Muốn bảo vệ sự sống của muôn loài trên hành tinh này th́ chúng ta phải cố gắng khắc phục ḿnh để sống trọn vẹn Giới Đức Hiếu Sinh. Bởi v́ Giới Đức Hiếu Sinh là những hành động cao quư tuyệt vời mà mọi người cần phải sống đúng như vậy để chan ḥa ḷng yêu thương với muôn loài; v́ loài nào cũng muốn sống như loài nào. Có loài nào muốn chết bao giờ đâu? Hiện giờ, trên thế giới này có hàng triệu triệu tín đồ theo Phật giáo, nhưng họ chỉ là những người buông xuôi theo hoàn cảnh.

“Không làm các pháp ác,

Nên làm các pháp thiện”.

“Ngăn ác diệt ác pháp,

Sinh thiện tăng trưởng thiện”.

Vậy, quư Phật tử giết hại chúng sanh, làm ra thực phẩm, cúng dường chư Tăng là làm thiện hay sao? Là sanh thiện và tăng trưởng thiện hay sao?

Quư Phật tử có biết ḿnh làm ngược lại với giáo lư của đức Phật không?

Như chúng tôi đă nói ở trên, quư Phật tử là những người mù, điếc, câm khi làm theo sự chỉ đạo của các sư ưa thích thịt chúng sanh mà không thấy tội lỗi.

Trong kinh Jivaka đức Phật dạy một người cư sĩ giết chúng sanh làm ra thực phẩm cúng dường chư Tăng có năm điều phi công đức, tức là có năm điều tội lỗi. Do quư Phật tử chưa am tường giáo lư chân chánh của Phật giáo, mà chỉ nghe biết hiểu theo kiến giải, tưởng giải của các sư: “Ăn không thấy, không nghe, không nghi hoặc ăn thịt chúng sanh tưởng rau cải là như ăn rau cải…”. Những ngôn ngữ này là những ngôn ngữ để đánh lừa Phật tử. Các sư c̣n lừa đảo quư Phật tử hơn nữa bằng những lư luận nuốt cho trôi những miếng thịt động vật: “Phật c̣n ăn thịt chúng sanh…, ăn thịt, cá cứ tưởng là rau cải sẽ là rau cải, tại quư vị cố chấp, chứ ăn vào trong bụng rồi chay mặn cũng như nhau”.

Kính thưa quư Phật tử! Giới Đức Hiếu Sinh này ở đâu mà sao các sư nỡ tâm nhai nuốt được thịt chúng sanh như vậy? Các sư là Thánh Tăng Tỳ Kheo, c̣n đây là Thánh cư sĩ mà c̣n không vi phạm giới luật này, sao Thánh Tăng Tỳ Kheo lại sống những điều phi giới luật như vậy? Thế mà tín đồ có mắt như mù, có tai như điếc, có ư thức như ngu. Có phải không quư vị?

Tóm lại, muốn làm một vị đệ tử Thánh Tăng, Thánh Ni, Thánh cư sĩ của đức Phật th́ giới luật Thánh đức hiếu sinh này phải giữ ǵn nghiêm túc, giữ ǵn nghiêm túc c̣n chưa đủ mà c̣n phải tu tập Tứ Vô Lượng Tâm: từ, bi, hỷ, xả. Do tu tập Tứ Vô Lượng Tâm được sung măn th́ mới sống được trọn vẹn với ḷng yêu thương muôn loài vạn vật. Nhờ có sống như vậy mới thể hiện được Thánh Đức Hiếu Sinh, chứ đừng bắt chước Tuệ Trung Thượng Sĩ, Tế Điên Tăng Ḥa Thượng, Phật Sống Cựu Kim Sơn và thiền sư Phần Dương, v.v.. tự tại vô ngại ăn thịt chúng sanh và uống rượu như người thế tục th́ chúng ta không c̣n chỗ nào b́nh luận cả, v́ họ là Thánh của ngoại đạo mà chúng ta đứng trên góc độ của Phật giáo đành chịu thua.


 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

Giới thứ hai:

CẤM THAM LAM, TRỘM CẮP

 Không tham lam trộm cắp là một GIỚI ĐỨC BUÔNG XẢ. Người tu sĩ cũng như những người cư sĩ tại gia cần phải học hiểu và sống đúng đức hạnh này.

Người có đức buông xả là người không tích lũy, không tham lam vật chất của cải tài sản. Làm ra của cải bằng mồ hôi nước mắt của ḿnh, nhưng không v́ thế để của cải làm khổ ḿnh, thường sống đơn giản, ĺa xa vật chất. Người có đức buông xả thường tư duy vật chất thế gian tạo thành “sanh y”[1]. Sanh y có nghĩa là các pháp vây quanh chúng ta tạo thành một cuộc sống khổ đau. Của cải càng nhiều cuộc sống càng khổ đau nhiều. Phải không quư Phật tử?

Người có tâm buông xả, xa ĺa vật chất thế gian là người có tâm hồn giải thoát; người có tâm buông xả, xa ĺa vật chất thế gian là người tu tập đúng chánh pháp của đạo Phật, là người sống đúng Giới hạnh của bậc Thánh cư sĩ nam và Thánh cư sĩ nữ.

Giới đức buông xả là dạy xa ĺa vật chất thế gian th́ chỉ có đạo Phật mới có những người tu sĩ và cư sĩ như vậy mà thôi. Do v́ pháp Phật dạy: Ly dục ly ác pháp nên Giới đức buông xả là một đức hạnh rất cần thiết cho bốn giới đệ tử của Phật giáo.

 Sanh y có nghĩa là những vật chất dùng để phục vụ đời sống của con người. Do đó, vật chất càng nhiều th́ biến con người mất đức hạnh buông xả nên trở thành những người tham lam, trộm cướp, gian xảo, lừa đảo, hung ác, v.v.. Nếu không sống đúng oai nghi tế hạnh Giới đức buông xả th́ chẳng bao giờ tâm hết tham lam trộm cắp. Tâm không hết tham lam trộm cắp th́ tu theo đạo Phật chẳng những hoài công vô ích, mà c̣n làm cho Phật giáo mang tiếng.

Trong cuộc đời tu hành, nhờ Giới Đức Buông Xả mà người đệ tử của Phật không c̣n tham lam, trộm cắp, không c̣n ham thích tiền bạc và vật dụng thế gian. Tâm hồn họ rất trong sạch và trắng bạch như vỏ ốc.

Ở thế gian nếu mọi người lập đức buông xả th́ nhà ngủ không đóng cửa, không c̣n lo sợ trộm cắp; không c̣n gian lận, lừa gạt, cân non, đo thiếu, v.v..; không c̣n sợ cướp công, cướp giật của người khác và không c̣n nạn ăn lo hối lộ, v.v..

Giới Đức Buông Xả giúp cho con người mất của không buồn, có của cải nhiều không tham đắm, dính mắc. Người không tham đắm, dính mắc của cải vật chất thế gian, là người sống đúng Giới Đức Buông Xả, là người có cuộc sống được an ổn, yên vui và hạnh phúc... không c̣n lo rầu, buồn khổ, v.v.. v́ vật chất.

Giới Đức Buông Xả không có nghĩa là tiêu cực không làm việc, ngược lại người có đức buông xả th́ tích cực làm việc hơn ai hết. Tại sao phải làm việc nhiều như vậy?

Làm việc nhiều như vậy là để sống, để giúp cho mọi người khác. Để sống tốt không tham lam là đức buông xả trong cần lao. Trong cần lao mà xa ĺa tâm tham lam, trộm cắp, gian xảo, lừa đảo là Giới Đức Buông Xả. Cần lao làm ra của cải nhưng lại không dính mắc, tham đắm vào những vật dụng hoặc tiền của làm ra được, đó là hành động tốt. Làm ra của giúp cho mọi người khác, hành động giúp cho mọi người khác là đức hạnh buông xả.

Bởi vậy, đức buông xả th́ luôn luôn đi đôi với đức cần lao. Có đức buông xả, có đức cần lao như vậy mới xứng đáng là một người không tham lam trộm cắp, là một tu sĩ Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh cư sĩ nam, nữ đệ tử của Phật.

Một con người biết sống lập đức buông xả để tâm ḿnh không dính mắc vật chất và tiền của, ngọc ngà, châu báu...; để tâm ḿnh được thanh thản, an lạc và vô sự; để tâm ḿnh ĺa xa tính tham lam, ích kỷ, hẹp ḥi; để tâm ḿnh ĺa xa ḷng tham lam, trộm, cắp, lừa đảo người khác..., nhưng lại sống đúng đức cần lao. Nhờ có sống đúng với đức cần lao nên không thành kẻ ăn bám của xă hội, không thành gánh nặng cho những người khác.

Ở đây, quư bạn nên hiểu đạo Phật nói đời khổ, chứ không bảo trốn đời khổ. V́ nói đời khổ là để biết như thật đời là khổ. Biết đời khổ như thật để mà vượt qua khổ của cuộc đời, chứ không có nghĩa biết đời khổ để bi quan yếm thế, để trốn khổ. Nói đời khổ tức là nói một sự thật của kiếp người, chứ không phải nói đời khổ để bỏ cuộc đời, trốn cuộc đời (tiêu cực, yếm thế, xa lánh sự sống của mọi người).

Ở đây, nói đời khổ là để chúng ta cùng nhau tạp sống đức hạnh làm người biết thương yêu nhau, biết chia cơm xẻ áo, biết tha thứ, biết nhường nhịn, biết góp công góp sức siêng năng cần lao để làm cho đời bớt khổ hay là không c̣n khổ nữa, chứ không phải biết đời khổ để bỏ cuộc đời này, để đi t́m một thế giới khác sung sướng hơn, hạnh phúc hơn, an lạc hơn... như các kinh sách tà giáo ngoại đạo và các tôn giáo khác đă từng xây dựng thế giới chư Thiên, Thiên Đàng, Cực Lạc Tây Phương, Niết Bàn, v.v.. là để tránh né sự khổ đau của thế gian này; để mơ tưởng một thế giới hạnh phúc an lạc hăo huyền khác. Sống theo Phật giáo phát triển và các tôn giáo khác không thực tế, sống nhờ vào sự cứu khổ của kẻ khác là không bao giờ có, trong lúc ḿnh luôn luôn làm khổ ḿnh, làm khổ người th́ ai cứu ḿnh được. Phải không các bạn?

Do gieo rắc những tư tưởng yếm thế, tiêu cực, thụ động, v.v.. nên hiện giờ có một số người yếm thế, tiêu cực, chán ngán cuộc sống thế giới này, họ đang đi t́m một thế giới khác, thế giới của chư Thiên, thế giới của chư Phật, chư Bồ Tát, thế giới Cực Lạc Tây Phương, thế giới Quy Nguyên, thế giới Nhất Nguyên, thế giới Niết Bàn. Đó là những người đầy ḷng tham đắm, chạy theo dục lạc danh lợi, mong cầu dục lạc nhiều hơn ở thế giới khác nữa.

Những người cầu mong như vậy là những người không lập đức buông xả. Họ chán ngán cái thế giới của loài người, là v́ họ không đạt được những dục lạc, danh lợi, chứ không phải họ buông xả.

Người sống lập đức buông xả không có nghĩa là chán ngán cuộc đời, bi quan, tiêu cực, yếm thế, mà họ đang làm tốt lại cuộc đời, xây dựng cho thế gian này trở thành Thiên Đàng, Cực Lạc. Nhờ con người có sống đúng Đức Buông Xả th́ thế gian này không c̣n có con người gian tham, trộm cướp nữa, không thành địa ngục.

Người sống đúng oai nghi tế hạnh Giới Đức Buông Xả, họ đều biết rơ tất cả các pháp trên thế gian này đều vô thường, không có một vật ǵ là thường hằng, vĩnh viễn, không có một thế giới nào là vĩnh cửu, chỉ do tưởng của chúng ta tạo ra mà thôi. Những hiện tượng có được là do các duyên hợp và tan tạo thành. Và v́ thế con người cần phải bảo vệ và xây dựng lại thế giới của con người đang có, làm cho nó tốt đẹp, làm cho nó sáng sủa, làm cho nó có một cuộc sống đầy đủ đạo đức nhiều hơn và nhiều hơn nữa.

Cho nên, ở đây lập đức buông xả, nhưng lại phải cần lao v́ ḿnh, v́ người để sự hiện hữu của ḿnh có ích cho ḿnh, cho người, chứ không phải bỏ đời, trốn đời như người ta đă nghĩ sai về Phật giáo.

Giới đức buông xả giúp cho chúng ta sống một đời sống trong sạch, không gian tham, trộm cắp, tâm hồn thanh thản, an ổn. Xin các bạn nhớ kỹ gian tham trộm cắp ở đây không chỉ có nghĩa lấy của không cho mà c̣n có nghĩa gian tham, xảo quyệt khác nữa như:

˗       Một công nhân lăn công đó cũng là gian tham, trộm cắp.

˗       Một ông Thầy giáo trong giờ dạy học cho bài học sinh làm mà ngồi xem báo đó cũng là gian tham, trộm cắp giờ học của học sinh.

˗       Một ông bác sĩ nhận quà bệnh nhân cũng là gian tham, trộm cắp.

˗       Một anh công an gác đường nhận tiền hối lộ cho xe chở đồ lậu thuế vào thành phố đó cũng là gian tham, trộm cắp.

Tóm lại Giới Đức Buông Xả đối trị được tâm tham lam, trộm cắp, giúp cho thân tâm không dính mắc vật chất thế gian, giúp cho tâm luôn được thanh thản, an lạc và vô sự.

Người muốn sống được giới đức buông xả này th́ phải thường xuyên quán các pháp vô thường, vô ngă, do duyên hợp mà thành và thường đau khổ.

Trong cuộc sống thế gian, khi người xuất gia cũng như người tại gia sống đúng Giới Đức Buông Xả này th́ thế gian là Thiên Đàng, Cực Lạc, cuộc sống con người sẽ hạnh phúc biết bao.

Giới thứ ba:

CẤM TÀ DÂM

Cấm tà dâm là một GIỚI ĐỨC CHUNG THỦY. Những người cư sĩ tại gia cần phải học, hiểu và sống cho đúng đức hạnh này.

Người không tà dâm là hiện tiền thân và tâm của họ chung thủy, trung thành, t́nh nghĩa, chân thật. Một người c̣n tà dâm th́ không thể nào thân tâm chung thủy, trung thành, t́nh nghĩa, chân thật được. Thân tâm không chung thủy, trung thành, t́nh nghĩa, chân thật th́ lúc nào cũng giả dối, không chân thật, không t́nh nghĩa. C̣n tâm tà dâm th́ làm sao gọi là Thánh cư sĩ được. Phải vậy không quư Phật tử?

Bởi vậy, GIỚI ĐỨC CHUNG THỦY này c̣n xác định được người cư sĩ Phật giáo là do chỗ tâm trung thành, chung thủy, chân thật với gia đ́nh. Người ta tu theo Phật giáo làm một cư sĩ mà tâm không trung thành, chung thủy, chân thật với gia đ́nh, th́ theo Phật giáo để làm ǵ? C̣n làm mang tiếng cho Phật giáo, là đệ tử Phật mà bất trung, bất nghĩa, không chung thủy, không chân thật. Thật là một tiếng xấu xa vô cùng nhục nhă.

Thưa Quư Phật tử! Một bậc Thánh cư sĩ th́ không thể nào c̣n tà dâm; c̣n tà dâm th́ sao được gọi là Thánh cư sĩ. Phải không quư vị?

GIỚI ĐỨC CHUNG THỦY là đức hạnh trước sau một ḷng, luôn có t́nh cảm gắn bó vợ chồng không thay đổi.

Cuộc sống gia đ́nh, chồng và vợ là những người đầu ấp, tay gối, sống chia vui sẻ buồn, khi cay đắng, lúc ngọt bùi đều có nhau. Cho nên, trước sau phải giữ một ḷng, t́nh cảm gắn bó không thay đổi. Khi đă có chồng, có vợ th́ không nên tà dâm với người khác. Tà dâm với người khác là làm hại gia đ́nh ḿnh và hại gia đ́nh người khác, làm cho hai gia đ́nh đều đau khổ và tan nát. Con cái đau khổ và oán hận cha mẹ suốt đời. Làm cha mẹ không hy sinh cho con cái mà chỉ v́ cá nhân của ḿnh th́ làm sao sống có đạo đức.

Cho nên, người không có đạo đức chung thủy cũng giống như loài thú vật: chó, trâu, ḅ, heo, dê, gà, vịt, v.v..

Người biết giữ ǵn GIỚI ĐỨC CHUNG THUỶ là người biết sống mang lại sự an vui hạnh phúc cho gia đ́nh; người biết giữ ǵn ĐỨC CHUNG THUỶ là người biết sống không làm khổ vợ con, không làm khổ chồng con và không làm khổ cả hai bên cha mẹ, anh em, chị em ḍng họ.

Trong gia đ́nh GIỚI ĐỨC CHUNG THỦY là một đức hạnh cao quư tuyệt vời, nó là một vị thần hạnh phúc của mỗi gia đ́nh. Vậy, quư Phật tử mỗi người đều có gia đ́nh th́ phải tu tập và sống cho đúng GIỚI ĐỨC CHUNG THỦY. GIỚI ĐỨC CHUNG THỦY rất cần thiết để bảo vệ gia đ́nh.

Giới thứ tư:

CẤM VỌNG NGỮ

Không vọng ngữ là một GIỚI ĐỨC CHÂN THẬT. Người tại gia cần phải học hiểu và sống đức hạnh này để đem lại lợi ích cho ḿnh cho người và cho cả hai.

Giới Đức không vọng ngữ là một Đức Hạnh Chân Thật. Người không nói dối là một con người thật là người, c̣n người phàm phu th́ không thể tránh khỏi nói dối, mặc dù nói dối không hại ai hoặc nói dối đùa chơi nhưng vẫn là nói dối, vẫn là làm mất uy tín của ḿnh. Không nói dối là một việc làm rất khó, cho nên phàm làm người ai ai cũng có nói dối, nói dối ít hay nói dối nhiều, nói dối có hại hay nói dối không hại người.

Vọng ngữ thuộc về khẩu nghiệp nên chỉ loài người mới mắc tội vọng ngữ, c̣n thú vật th́ không mắc tội này, v́ thú vật không nói được.

Người không vọng ngữ là người tạo cho ḿnh một uy tín đối với mọi người, một sự kính trọng tuyệt vời, một ḷng tin yêu quư và tôn trọng sâu sắc.

Vọng ngữ chia làm bốn phần:

1-       Nói dối.

2-       Nói lời hung ác.

3-       Nói lưỡi hai chiều.

4-       Nói lật lọng.

NÓI DỐI CÓ NHIỀU CÁCH:

a.        Ca ngợi khen tặng một người nào mà người đó chưa làm được như vậy, th́ đó là “nói dối”. Cách nói dối đó là nịnh bợ lấy ḷng người trên. Ca ngợi việc làm của người khác không đúng đạo đức mà nói đúng đạo đức là “nói dối”.

b.        Quư Ḥa Thượng chết trong bệnh đau, khổ sở, mà bảo rằng thu thần nhập diệt, đó là “nói dối”, v́ các vị HT có biết cách nào thu thần nhập diệt đâu?

c.        Khi nói sai một điều ǵ là có nói dối. Như trong kinh Kim Cang dạy: “Bồ Tát độ hết chúng sanh th́ thành Phật”, có nghĩa là một người tu tập hết vọng tưởng th́ thành Phật. Lời dạy trong kinh này là nói dối, v́ khi hết vọng tưởng th́ tâm sẽ rơi vào trong “Không”, chứ không thành Phật. Phật chính là chỗ tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ, chứ không phải tâm không niệm, tâm vô phân biệt, tâm vô trụ, v.v..

d.        Trong Tâm Kinh Bát Nhă dạy: “Quán Tự Tại hành thâm Bát Nhă Ba La Mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Lời dạy như vậy là “nói dối”, v́ chưa thấy ai quán chiếu ngũ uẩn giai không được. Tổ Sư Tử chết oan v́ lời nói dối này. Trong các chùa ngày đêm bốn thời công phu khuya sớm đều tụng Tâm Kinh Bát Nhă mà chưa có thấy vị thầy nào thoát khổ, như vậy kinh này nói dối.

e.        Không thấy, không nghe mà nói thấy nghe là nói dối.

f.         Thấy, nghe mà nói không thấy, không nghe là nói dối.

g.        Thêu dệt bịa đặt ra để nói xấu người khác là nói dối.

h.        Nghi ngờ nói ra không đúng sự thật là nói dối.

i.          Ca ngợi khen tặng không đúng là nói dối.

j.          Thêm bớt, phao tin đồn ra nhiều, để cho mọi người cười chê một người nào đó. Đó là nói dối.

k.        Ca ngợi người khác không đúng cách là nói dối.

l.          Một người giới luật không nghiêm chỉnh mà mang h́nh dáng tu sĩ để nói ḿnh tu sĩ là nói dối.

m.      Với người này nói xấu người kia, với người kia nói xấu người này là nói dối.

n.        Trước mặt người nói tốt, sau lưng người nói xấu là nói dối.

o.        Chê người khác không đúng cách, có nghĩa chưa biết tŕnh độ người ta ở mức độ nào mà chê là nói vọng ngữ.

p.        Chê giới luật Phật lỗi thời là nói dối.

q.        Chưa biết người chứng quả A La Hán ra sao mà chê A La Hán c̣n tạp khí, c̣n tranh chấp; chê như vậy là nói dối.

r.         Đặt ra nhiều quả vị A La Hán như trong kinh sách phát triển: 1- A La Hán Toàn Giác, 2- A La Hán Độc Giác, 3- A La Hán Thanh Văn, v.v.. Đó là nói dối, v́ quả vị A La Hán là vô lậu; người nào tu tập tâm vô lậu là người chứng quả A La Hán. Quả A La Hán không có cao thấp; phân chia quả vị A La Hán cao thấp là tư tưởng phàm phu, tư tưởng người thế gian. Người chưa chứng quả A La Hán mà phân chia quả A La Hán là nói dối. Cho nên, khen hay chê, phân chia không đúng sự thật đều có nói dối.

s.         Nói một việc mà người khác không hiểu bằng trí mà phải hiểu bằng tưởng là có nói dối. Như nói có linh hồn người chết, nói có Phật tánh, có thế giới siêu h́nh là nói dối, v́ đó là cảnh giới tưởng, cảnh giới không có thật.

t.          Nói con người có ngă, có thần thức là nói dối. Xưa đức Phật dạy: “Ta nói một điều ǵ th́ mọi người hiểu được, biết được bằng ư thức th́ ta không có nói dối. C̣n ta nói một điều mà mọi người phải hiểu bằng tưởng là có nói dối trong ta”.

u.        Nói Phật tánh là tánh biết ngoài ư thức, tưởng thức và tâm thức là có nói dối, v́ ngoài ba thức của thân ra, làm sao có tánh biết nào khác nữa.

v.        Nói có cơi siêu h́nh thật sự nghĩa là nói có linh hồn người chết là nói dối, chứ họ đâu biết rằng linh hồn người chết là do trạng thái của tưởng uẩn của người c̣n sống tạo ra.

w.      Nói có cơi Trời, cơi Cực Lạc là có nói dối, v́ đâu có cơi Trời, cơi Cực Lạc. Cơi Trời, cơi Cực Lạc là cơi tưởng của con người tạo ra.

x.        Nói cơi người là cơi có thật th́ cũng nói dối, v́ cơi người là cơi duyên hợp, nên các duyên có hợp th́ lại có tan, cho nên sinh tử là duyên hợp tan. Duyên hợp tan th́ có cái ǵ là thật đâu mà nói nó có thật th́ đó là nói dối. Tại sao vậy? Tại v́ cơi người là cơi duyên hợp chứ không có thật ngă. Nói cơi người có thật là nói trong tưởng, tưởng như kinh sách của tà giáo ngoại đạo.

y.        Nói con người từ cơi Trời Quang Âm Thiên tái sanh đến cơi người là nói láo, v́ nói như vậy con người sẽ tưởng ra chứ ư thức không thể hiểu được.

Cho nên, đức Phật dạy: “Ta nói những ǵ mà ư thức con người hiểu được là không nói dối, ngược lại là có nói dối trong ta”. Nói ra một điều ǵ mà mọi người không hiểu hay hiểu một cách lờ mờ, không cụ thể, rơ ràng là ta đă nói dối.

Một người tu sĩ Phật giáo chân chánh không bao giờ nói những lời trườn uốn như con lươn, “vừa có vừa không” (sắc tức thị không, không tức thị sắc). Nói như vậy là nói dối, nói lừa đảo, nói lường gạt người. Chúng tôi xin nhắc lại lời nói ở trên. Bát Nhă Tâm Kinh có câu: “Hành thâm Bát Nhă Ba La Mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, câu nói này là câu nói dối. V́ bao đời, từ khi có câu kinh này, trong các chùa người ta đă nhật tụng hằng ngày, mà ngũ uẩn của quư Thầy có không chưa?

Nếu ngũ uẩn giai không sao quư Thầy c̣n thấy đau bệnh khổ sở như vậy? Nếu ngũ uẩn giai không sao lại có chùa to Phật lớn như vậy, nếu ngũ uẩn giai không sao quư Thầy c̣n tham, sân, si như vậy? Rơ ràng là câu kinh lừa đảo nói dối, lừa người.

Như kinh Pháp Hoa dạy: “Dù cho tạo tội như núi cả, Diệu Pháp Liên Hoa tụng mấy hàng”. Lời dạy này là nói dối. Có bao giờ đi trộm cướp giết người, bị tù tội, bị án tử h́nh mà tụng kinh Pháp Hoa mà ra tù, khỏi tử h́nh chưa?

Giới đức không nói vọng ngữ là một đức hạnh về khẩu nghiệp, nên khi nói ra một điều ǵ, hay giảng kinh thuyết pháp một loại kinh sách nào th́ phải nói nghĩa lư có kinh nghiệm tu hành chứng đắc của ḿnh rơ ràng và cụ thể, là không nói dối; c̣n giảng nói mà ḿnh chưa làm được, chưa tu được mà dạy cho mọi người là nói dối. Giảng nói mà người ta thực hành có kết quả giải thoát thật sự là nói thật, giảng nói mà người ta thực hành không có kết quả là nói dối, đức Phật đă xác định: “Pháp ta không có thời gian đến để mà thấy”. Đó là đức Phật đă xác định lời Ta dạy là không nói dối.

V́ thế, sự giải thoát phải đi đôi với sự thực hành pháp, pháp như vậy mới gọi là pháp không nói dối. Cho nên, pháp tu thiền định của đạo Phật dạy rất rơ ràng: “ngăn ác, diệt ác pháp” là pháp giải thoát rơ ràng. V́ ngăn ác diệt ác pháp là có giải thoát nơi tâm ḿnh cụ thể, rơ ràng.

Người đă biết ác pháp mà không biết ngăn diệt nó là người không tự cứu khổ ḿnh. C̣n người biết ngăn diệt ác pháp th́ người đó sẽ hết khổ. Đó là pháp dạy chân thật không nói dối, v́ pháp dạy tu tập ở đâu th́ ở đó có kết quả ngay liền. Pháp dạy tu tập như vậy là pháp dạy chúng ta trở thành những con người không nói vọng ngữ. Người giảng kinh thuyết pháp như vậy là những bậc giữ ǵn Giới Đức Chân Thật.

Người tu chứng quả A La Hán đi thuyết giảng, làm giảng sư dạy người tu tập là không nói dối.

Người tu hành chưa chứng quả A La Hán đi thuyết giảng, làm giảng sư dạy người tu tập là nói dối, mặc dù dạy rất đúng nghĩa trong kinh sách nhưng v́ chưa có kinh nghiệm nên dạy người tu tập không kết quả giải thoát, do đó thành ra nói dối.

Xưa đức Phật c̣n tại thế, Người không cho những người tu chưa chứng đi thuyết giảng, v́ tu chưa chứng đi thuyết giảng dạy người tu sẽ giết người hơn là độ người. Bằng chứng hiện giờ như quư vị đă thấy, người tu theo Phật giáo rất đông nhưng có mấy ai đă làm chủ sanh, già, bệnh, chết? Mà mọi người phải tốn hao xây cất chùa, đúc tượng Phật hằng tỷ tỷ bạc và c̣n mất công sức tu tập mà kết quả được những ǵ?

Ông A Nan tu hành chưa chứng đạt chân lư nên mỗi khi được Phật sai đi thuyết giảng, Ngài dặn A Nan trước khi thuyết giảng phải nói cho mọi người biết: “Tôi nghe đức Phật dạy như vậy”, Như thị ngă văn nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc”. Hiện giờ kinh sách phát triển đều lấy câu này vào đầu mỗi cuốn kinh.

“Pháp Ta không có thời gian đến để mà thấy”. Lời dạy này cho chúng ta thấy pháp Phật rất thực tế và cụ thể. Bởi v́ Pháp tu tập có kết quả ngay liền như đức Phật đă dạy: “Tâm có tham biết tâm có tham…”. Nếu biết tâm ḿnh có tham th́ biết đó là ác pháp, biết đó là ác pháp th́ nên mau mau dừng ḷng tham đó liền là quư bạn sẽ được giải thoát ngay. Phải không quư Phật tử?

Nếu biết tâm ḿnh có sân th́ Phật tử dừng ngay ḷng sân đó liền th́ Phật tử sẽ được giải thoát, c̣n ngược lại Phật tử không dừng tâm sân đó th́ Phật tử phải khổ đau. Có đúng như vậy không quư Phật tử?

Pháp của Phật dạy tu tập như vậy có thực tế không quư Phật tử? Nhưng ngày nay có nhiều người dạy pháp Phật không thực tế như vầy: ngồi ức chế tâm cho không vọng tưởng; niệm Phật nhất tâm, tụng kinh cầu khẩn, v.v.. Tu tập kiểu này có hết tham, sân, si không? Có cụ thể thực tế như Pháp ở trên không? Như vậy, ngồi thiền ức chế tâm không vọng tưởng, niệm Phật nhất tâm cầu văng sanh, tụng kinh cầu khẩn chư Phật gia bị tai qua nạn khỏi v.v.. là pháp nói dối, là pháp không chân thật chỉ lừa dối người, làm cho hao tiền tốn của phí sức vô ích.

Giới Đức Chân Thật đă xác định những người giảng kinh, thuyết pháp thời nay phần nhiều là nói dối. Họ nói dối v́ họ nói ra mà chính họ không làm được (chưa chứng). Kinh sách Đại thừa dạy: “Y giáo bất y nhân”. Câu kinh này là câu kinh che đậy sự nói dối của các ông giảng sư. Bảo người khác giữ giới mà ḿnh không giữ giới là ḿnh có nói dối. Dạy người khác tu chứng quả Thánh mà ḿnh tu chưa chứng quả Thánh là nói dối. V́ có biết kinh nghiệm đâu mà tu chứng.

Tóm lại khi tu tập chưa xong th́ nên im lặng như Thánh, tu tập chưa xong mà dạy người tu là nói dối, cần phải cảnh giác những loại Thánh giả này. Đó là những hạng Bồ Tát “dỏm”, Bồ Tát chuyên vọng ngữ.

Giới Đức không nói vọng ngữ, là để xác định cho những người giới luật tinh nghiêm. Họ là những bậc Thánh Tăng, Thánh Ni và Thánh cư sĩ, là đệ tử chân chính của đức Phật. Ngược lại những người phạm giới phá giới, bẻ vụn giới thường vọng ngữ là Ma Ba Tuần đội lốt Phật giáo lừa đảo mọi người, khiến cho Phật giáo mất gốc.

Giới thứ năm:

CẤM UỐNG RƯỢU

Không uống rượu là một GIỚI ĐỨC MINH MẪN. Người Phật tử cần phải học hiểu và sống đúng giới luật đức hạnh này để không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ cả hai.

Một người được gọi là có đức hạnh minh mẫn sáng suốt th́ không nên để thân tâm đắm nhiễm các ác pháp thế gian như: thuốc lá, cà phê, chè (trà), cần sa, thuốc phiện và bất cứ những loại rượu nào khiến cho người ta say mê, nghiện ngập, gây tác hại cho thân bệnh tật và thần kinh căng thẳng, rối loạn làm cho con người như ngây, như dại, v.v.. làm cho con người nghiện ngập bỏ không được.

Trong cuộc sống của con người có rất nhiều pháp ác thế gian, khiến thân tâm chúng ta dễ đắm nhiễm và say mê.

Rượu là một chất nước độc uống vào kích thích cơ thể khiến cho có những hành động giống như những người điên, cơ thể đi đứng xiêu vẹo, ngă tới, ngă lui, đụng đâu nằm đó chẳng biết dơ sạch, miệng nói ự ẹ! Lặp đi lặp lại một câu nhiều lần, khiến cho mọi người không ai kính trọng.

Người uống rượu không phải là người khôn ngoan, mà là người ngu si đệ nhất.

˗       Thứ nhất là họ mất tiền phải mua rượu.

˗       Thứ hai là họ đem độc dược vào thân mà không biết, khiến cho thân sinh ra nhiều bệnh tật khó trị, khiến cho trí óc ngu đần, không c̣n sáng suốt.

˗       Thứ ba biến họ trở thành con người chỉ c̣n biết tham ăn, tham nhậu, ưa đánh lộn, thích chửi mắng vợ con và xóm làng.

˗       Thứ tư một người say rượu có thể làm náo loạn cả thôn xóm, mất trật tự an ninh trong thôn xóm.

Một con người b́nh thường uống rượu say mà c̣n mất giá trị thay, huống là một người Phật tử uống rượu say th́ c̣n giá trị ǵ là một Phật tử đệ tử của Phật nữa. Phải không quư Phật tử?

Khi uống rượu vào bị rượu kích thích thần kinh, người say rượu xem trời đất chẳng ra ǵ, chỉ có ḿnh là trên hết, nên dùng những lời nói phách lối, cống cao, ngă mạn, chửi mắng thiên hạ, la lối om ṣm, dùng những lời lẽ kém văn hóa thiếu đạo đức, mất lịch sự rất thô tục: “Thằng, mày, nó, chửi thề thô tục, v.v..”.

Một người Phật tử là con của Phật mà tay cầm ly rượu hay lon bia uống th́ c̣n nghĩa lư ǵ là một cư sĩ của Phật giáo; c̣n nghĩa lư ǵ là một vị Phật tử đệ tử của Phật nữa?

Người đời cầm ly rượu uống người ta c̣n thấy người ấy là người không minh mẫn, không sáng suốt, ngu si, là người thiếu đạo đức với ḿnh. Uống độc dược vào thân để tự làm khổ ḿnh mà không biết, hành động như vậy là hành động của người điên, người mất trí.

Người ta bảo rằng: mấy ông Tiên hay uống rượu (Tiên tửu). Lời nói này có đúng không?

Lời nói này là theo sự tưởng nghĩ của con người cho rằng người nào hưởng đầy đủ dục lạc thế gian mà không phải đổ mồ hôi nước mắt làm ra vật chất (sướng như Tiên). Cho nên, Tiên là sự tưởng nghĩ, chứ thực sự những người bỏ đời vào núi tu hành th́ rượu ở đâu trong núi có mà uống? Ai làm ra rượu cho các ông Tiên uống? Tiên chỉ là một sự tưởng tượng của con người.

Giới Đức Minh Mẫn xác định cho chúng ta thấy Thánh, Tiên, Phật là những người sáng suốt minh mẫn. Những người sáng suốt minh mẫn mà lại uống rượu th́ có c̣n sáng suốt minh mẫn nữa không?

Tiên mà c̣n uống rượu th́ đâu c̣n nghĩa là Tiên, mà là kẻ phàm phu tục tử tham ăn, tham uống. Tiên là những người thân tâm phải thanh tịnh, thông minh và sáng suốt, nên có ngu ǵ mà uống rượu.

Tiên mà c̣n đắm ch́m trong men rượu th́ không thể gọi là Tiên nữa mà gọi là những người ngu. Người ngu mới nghiện ngập, mới làm cho thân ḿnh khổ sở. Người uống rượu đâu có sung sướng ǵ. Phải không quư Phật tử? Chỉ làm khổ cho thân ḿnh, cho vợ con, cho cha mẹ. Rượu đắng và cay, gây ra nhiều thứ bệnh tật khổ đau, v.v..

Người đời không biết cho Lư Bạch là Tiên. Sự thật Lư Bạch chỉ là một nhà thơ rượu. Có uống rượu th́ làm thơ, không uống rượu th́ không làm thơ được. Trong kinh Phật đă dạy: Có năm tiêu chuẩn làm người, mà uống rượu là một tiêu chuẩn để không xứng đáng làm người. Người uống rượu là người chưa xứng đáng làm người. Cho nên, nói đến Tiên là phải nói đến một con người hơn con người. Thế mà Tiên c̣n uống rượu, c̣n uống rượu th́ chưa xứng đáng làm người, th́ làm Tiên sao được. Phải không quư Phật tử?

Người ta so sánh thú vật, Người, Thánh, Tiên, Phật là ở chỗ đức hạnh. Tiêu chuẩn đức hạnh mới xác định được cụ thể ai là thú vật, ai là người, ai là Thánh, ai là Tiên và ai là Phật. Giới Đức Minh Mẫn đă xác định được điều này.

Cho nên, đạo Phật đă biết lấy Giới luật mà xác định và phân loại: Làm Người như thế nào mới thật sự làm Người, làm Tiên như thế nào mới thật sự là Tiên, làm Thánh như thế nào mới thật sự là Thánh và làm Phật như thế nào mới thật sự là Phật. Người làm thú vật th́ dễ, nhưng làm người không phải dễ, nên Khổng Tử nói: “Vi nhân nan, vi nhân nan”, nghĩa là làm Người khó, làm Người khó. Làm Thánh, Tiên, Phật th́ c̣n khó gấp trăm ngàn lần.

Tiểu chuẩn ấy đạo Phật đă xác định qua hành động sống hằng ngày như vậy, ai làm khác mà gọi họ là Người, Thánh, Tiên và Phật là lừa đảo người.

Cho nên, đứng trong tiêu chuẩn của Phật giáo mà xác định th́ kẻ nào mạo nhận ḿnh là Người, Thánh, Tiên, Phật, chúng ta đều biết thứ giả, thứ thật. Không thể có ai lừa dối chúng ta được. Phải không quư Phật tử?

Năm giới đức của người cư sĩ xác định cho chúng ta biết rất rơ những người Phật tử giả và những người Phật tử thật trong Phật giáo.

Người tu sĩ Phật giáo mà chỉ vi phạm một giới trong năm Giới Đức cư sĩ này th́ người ấy không phải là Phật tử.

Thầy xin nhắc lại, một vị Phật tử c̣n bưng ly rượu hay lon bia uống th́ c̣n ǵ thể thống của một vị Thánh cư sĩ, cũng như một vị Phật tử cầm một điếu thuốc lá hút th́ c̣n nghĩa lư ǵ Thánh cư sĩ, là đệ tử của đức Phật. Phải không quư Phật tử?

Giới cấm uống rượu, v́ rượu là một thứ nghiện ngập khiến cho mọi người dễ đắm mê. Ngoài rượu ra, chúng ta phải hiểu có những thứ nghiện ngập khác như: thuốc lá, chè (trà), cà phê, thuốc phiện, v.v.. tuy rằng Phật không cấm nhưng chúng ta nên biết đó cũng là những thứ độc dược gây ra bệnh tật cho cơ thể mang đến sự khổ đau cho chúng ta. Cho nên, một vị cư sĩ Phật giáo mà cầm điếu thuốc lá hút phà khói mịt mù th́ c̣n có giá trị ǵ là một cư sĩ Phật giáo. Phải không quư Phật tử?

Một vị Phật tử không thể c̣n đắm nhiễm những thứ độc dược này, v́ đắm nhiễm những thứ độc được này th́ oai nghi tế hạnh của một cư sĩ Phật giáo không cho phép họ ngang nhiên sống bừa băi trên nhưng thứ nghiện ngập này.

Một vị Phật tử là đại diện cho đạo đức sống không làm khổ ḿnh, không khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh. Thế mà, đại diện cho đạo đức mà lại hút thuốc lá, uống rượu th́ c̣n ǵ là đại diện cho đạo đức gương mẫu của ai nữa?

Đă không làm cư sĩ nam, cư sĩ nữ th́ thôi, một khi đă làm cư sĩ nam, cư sĩ nữ đă quy y Phật, Pháp, Tăng th́ phải giữ cho đúng tư cách của một vị Phật tử đừng làm sai phạm khiến người ta phỉ báng Phật Pháp, chê cười Phật giáo th́ tội ấy về ai?

Cho nên, Phật tử hiện giờ phạm giới th́ phải chịu tội đọa địa ngục. Trước giờ chết họ phải thọ lấy những cơn bạo bệnh, những bệnh ngặt nghèo, đau đớn không cùng. Đừng bảo rằng trả nghiệp, dồn nghiệp. Phật tử là những bậc Thánh cư sĩ th́ phải “chuyển nghiệp”, chuyển nghiệp làm sao có thọ khổ như vậy? Lời nói: trả nghiệp, dồn nghiệp, chỉ là lời nói lừa đảo để che đậy tội lỗi của ḿnh với những người khác.

Người cư sĩ giữ ǵn trọn vẹn năm giới, đến khi chết người ta c̣n biết ngày, giờ ra đi, bệnh đau sơ sơ, nhẹ nhàng, chết trong êm thắm không có nhiều khổ đau. C̣n ngược lại, cư sĩ sống phá giới, phạm giới, đánh mất hết oai nghi Thánh hạnh, làm cho Phật Pháp suy đồi, do đó khi chết phải trả quả khổ đau tận cùng.

Gương cư sĩ đi trước phạm giới bị quả báo để răn nhắc cho những cư sĩ đi sau phải cố tránh, đừng để xe lăn vào vết xe đổ.

Rượu, thuốc lá, v.v.. có mập béo ǵ mà lại đắm nhiễm? Rượu, thuốc lá, thuốc phiện v.v.. là những thứ độc dược mà mọi người cần phải tránh xa. C̣n thích rượu, thuốc lá, v.v.. th́ đừng nên thọ Tam Quy Ngũ Giới.

Phật tử là những bậc Thánh cư sĩ đệ tử của Phật th́ rượu, thuốc lá và các thứ đắm nhiễm khác phải từ bỏ, xa ĺa th́ mới xứng đáng là Phật tử.

Không làm đệ tử của Phật th́ thôi, c̣n đă làm đệ tử của Phật th́ phải xa ĺa, phải từ bỏ các thứ dục lạc dễ đắm nhiễm đó.

Kính thưa nam nữ cư sĩ Phật tử! Những Giới Đức Hạnh của đức Phật đă dạy th́ chúng ta phải tôn trọng, không được xem thường, luôn luôn phải chấp hành nghiêm chỉnh không được vi phạm, nhất là giới cấm uống rượu th́ phải chấp hành triệt để không được uống rượu, hút thuốc lá, v.v..

Giới Đức Minh Mẫn của một vị Thánh Cư Sĩ đệ tử của đức Phật, là chúng ta cần phải thông minh, trí tuệ sáng suốt để ngăn và diệt các ác pháp này.

Trí tuệ thông minh của đạo Phật, không hẳn là tri kiến hiểu biết nhiều sự việc mênh mông, mà c̣n là tri thức hiểu biết không làm khổ ḿnh, khổ người và khổ chúng sanh. Người không uống rượu là người có sự hiểu biết không làm khổ ḿnh, không làm khổ người và không làm khổ cả hai, đó là người minh mẫn, là người sáng suốt

Giới Đức Minh Mẫn giúp cho mọi người không c̣n ngu si để đắm mê hút thuốc lá và uống rượu nữa.

Đệ tử của Phật là đệ tử của Trí Tuệ, của sự thông minh, sáng suốt. Cho nên, GIỚI ĐỨC MINH MẪN là sự thông minh, sáng suốt đó.

Quư Phật tử đă học được, sáu đức ở trong năm giới này. V́ vậy những đức hạnh này nó mang đến sự lợi ích lớn cho đời sống của quư Phật tử. Quư Phật tử cứ thử suy ngẫm thử xem, trong sáu đức này nó sẽ mang đến sự lợi ích cho bản thân của ḿnh, có lợi ích rất lớn như trên đă nói. Có đúng vậy không? Nếu đúng th́ quư Phật tử hăy chấp tay lên xin nguyện rằng: “Từ đây về sau con xin hứa sẽ cố gắng giữ ǵn năm giới này, để thực hiện sáu đức hạnh làm người; để xứng đáng làm người, làm đệ tử của Phật”. Quư Phật tử nguyện như vậy rồi lễ Phật để thọ nhận năm giới đức này... Đến đây Thầy xin tuyên bố chấm dứt buổi lễ THỌ TAM QUY, NGŨ GIỚI.

³³³


LỜI KHUYÊN

Kính thưa quư Phật tử!

Sau khi thọ tam quy ngũ giới xong, từ đây mỗi tháng quư vị hăy về tu viện tu học giới luật đức hạnh làm người một ngày. Đó là trách nhiệm bổn phận của người Phật tử Thọ Tam Quy Ngũ giới.

V́ có học giới luật đức hạnh làm người th́ quư vị mới trở thành những người có đức hạnh, nếu không học giới luật đức hạnh th́ quư vị không thể trở thành những người có đạo đức. Những người không có đạo đức th́ làm sao trở thành những người Phật tử được. Phải không quư Phật tử?

Dù quư vị có Thọ Tam Quy Ngũ giới 10 năm hoặc 20 năm, mà không đúng năm giới đức hạnh của đạo Phật th́ quư vị vẫn chưa phải là đệ tử Phật. Bởi v́ Phật tử là con Phật. Con Phật là phải sống có đạo đức, chứ con Phật sao lại sống không có đạo đức; con Phật sao lại sống như những người b́nh thường thế gian th́ sao gọi là Phật tử, làm sao gọi là người Thọ Tam Quy Ngũ Giới được. Phải không quư vị?

Đệ tử Phật là phải sống như Phật, muốn sống như Phật mà không chịu học và sống đức hạnh như Phật th́ làm sao sống như Phật được. Không sống như Phật mà tự xưng là Phật tử, là đệ tử Phật th́ xấu hổ lắm quư vị ạ!

Người Phật tử mới bước chân vào đạo Phật đều phải thọ năm giới, tức là phải chấp nhận năm giới đức hạnh này. Cho nên, năm giới đức hạnh này đem lại lợi ích rất lớn cho đời sống của những ai đi theo bước chân của đức Phật. V́ thế, quư Phật tử cần phải học và tập luyện trau dồi năm đức hạnh này. Nếu không học và trau dồi năm đức hạnh th́ chẳng bao giờ xứng đáng làm người Phật tử và cũng không bao giờ thành người Phật tử được.

Kính thưa quư phật tử! Khi Thọ Tam Quy Ngũ Giới xong, có nghĩa là quư Phật tử đă chấp nhận năm giới đức hạnh làm người th́ quư vị đừng xem thường và đừng bỏ qua những giới đức hạnh này. Bỏ qua những giới đức hạnh này là bỏ qua những vật vô giá mà trên thế gian này không có vật ǵ đánh đổi được; bỏ qua những giới đức hạnh này là quư vị sẽ bị thiệt tḥi rất lớn trong cuộc sống và đời đời kiếp kiếp quư vị sẽ chịu nhiều khổ đau không bao giờ dứt. V́ có giữ ǵn năm giới đức hạnh này th́ quư vị mới thoát được bản chất của loài cầm thú, mới xứng đáng là những con người trong Phật giáo, mới chuyển hóa những nghiệp ác nhiều đời, nhiều kiếp của quư vị. V́ thế, bản thân và gia đ́nh quư vị mới được b́nh an và hạnh phúc. Năm giới này không phải là nhiều giới; năm giới này không phải là những giới luật khó khăn, rắc rối, cao siêu ngoài sức con người, ngoài tầm tay của quư vị. Nhưng tại sao quư Phật tử không giữ được? Nó là năm tiêu chuẩn để trở thành con người thật sự là người, nếu năm tiêu chuẩn này chưa đạt được th́ con người c̣n mang bản chất hung ác của động vật. Quư Phật tử có nhận ra điều này không?

Đă Thọ Tam Quy Ngũ giới là đă tập sống trong thiện pháp. Sống trong thiện pháp là phải được chuyển nghiệp khổ đau của bản thân và gia đ́nh. Cho nên, người Thọ Tam Quy Ngũ Giới th́ bản thân và gia đ́nh đều được b́nh an, mạnh khỏe. C̣n đă Thọ Tam Quy Ngũ Giới lâu rồi mà bản thân và gia đ́nh nay đau mai ốm, tai nạn thường xảy ra khiến cho cuộc sống buồn phiền, bất an, khổ đau chồng chất từ năm này đến năm khác. Đó là Thọ Tam Quy Ngũ Giới cho có Thọ Tam Quy Ngũ Giới, thọ cho có h́nh thức; thọ cho có danh là Phật tử, chứ không phải Thọ Tam Quy Ngũ Giới để sống như Phật, như Pháp, như Tăng và như giới luật đức hạnh. V́ thế, mọi bệnh tật tai nạn trong gia đ́nh đă không chuyển đổi mà lại càng tăng thêm. Đó là nương tựa theo Phật giáo mà lại nương tựa theo không làm theo đúng.

V́ sự b́nh an của ḿnh và mọi người, quư Phật tử hăy cố gắng siêng năng học tập, trau dồi và sống đúng những giới luật đức hạnh này để không phụ ơn Phật, ơn thầy dạy bảo; để đem lại sự b́nh an cho ḿnh, cho người và cho muôn loài vật sống trên hành tinh này; để biến đổi cơi thế gian trở thành cơi Cực Lạc, Thiên Đàng.

HẾT



[1] Sanh có nghĩa là những vật chất dùng để phục vụ đời sống con người. Do đó, vật chất càng nhiều th́ biến con người mất đức hạnh buông xả nên trở thành những người tham lam, trộm cướp, gian xảo, lừa đảo, hung ác, v.v..